Hiển thị các bài đăng có nhãn Điều trị viêm gan c. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điều trị viêm gan c. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013
Bệnh viêm gan C: Những hiểu lầm tai hại
Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013
8 phản ứng phụ trong khi điều trị bệnh viêm gan virus C mãn tính
1. HỘI CHỨNG GIỐNG CÚM
Nhóm triệu chứng thường gặp nhất là nhức đầu, sốt lạnh, run, đau cơ/khớp và tình trạng khó chịu có khuynh hướng trở nên nặng nhất trong vòng 48 giời sau khi tiêm, nhất là khi tiêm lần đầu.
Giúp bệnh nhân xử lý các triệu chứng giống cúm:
Uống nhiều nước có thể giúp bệnh nhân giảm các triệu chứng giống cúm.
Cân nhắc acetaminophen/paracetamol hoặc ibuprofen để hạ nhiệt và giảm đau rõ nhất là điều chỉnh thời gian xuất hiện các triệu chứng này. Nhắc nhở bệnh nhân dùng quá liều các thuốc này vì chúng có thể làm tổn thương gan.
Khẳng định với bệnh nhân rằng độ nặng của các triệu chứng giống cúm thường gắn với mỗi lần tiêm.
2. NHỮNG THAY ĐỔI VỀ MÁU
Cần theo dõi công thức máu đầy đủ vì điều trị có thể làm giảm haemoglobin, bạch cầu đa nhân trung tính và tiểu cầu như được trình bày dưới đây.
Chú ý các dấu hiệu mệt mỏi hoặc khó thở.
- Điều trị ribavirin có thể gây thiếu máu huyết tán trong vài tuần đầu của điều trị. Nồng độ haemoglobin có thể giảm đi 2-3g/dL. Nếu giảm nhiều hơn số này (giảm còn ít hơn 10g/dL), có thể cần phải giảm liều ribavirin như đã được khuyến nghị trong tài liệu thông tin sản phẩm. Tuy nhiên, liều thấp hơn 600mg sẽ không có hiệu quả và cần chuyển sang đơn …liệu, tốt nhất bằng pegylated interferon. Đối với những người không có tiền sử bệnh tim khi mức heamoglobin nhỏ hơn 8,5g/dL cần phải ngừng ribavirin.
- Interferon làm giảm số lượng bạch cầu đa nhân trung tính trong vài tuần đầu của điều trị. Nếu giảm bạch cẩu đa nhân trung tính tiến triển, giảm liều interferon. Nếu số lượng bạch cầu đa nhân trung tính tăng lại, có thể khôi phục lại liều interferon đầy đủ.
- Interferon cũng làm giảm số lượng tiểu cầu trong vòng vài tuần đầu của điều trị. Nếu giảm tiểu cầu tiến triển, giảm liều interferon như đã được ghi rõ trong tài liệu thông tin sản phẩm. Nếu số lượng tiểu cầu tăng lại, có thể khôi phục lại liều interferon đầy đủ.
3. NHỮNG VẤN ĐỀ DỄ XÚC ĐỘNG LO ÂU, CHOÁNG VÁNG, TRẦM CẢM
Bệnh nhân bị viêm gan virus C mạn có thể có các triệu chứng hoảng hốt, lo lắng, thay đổi xúc cảm hoặc trầm cảm do tình trạng bệnh hoặc do điều trị. Trầm cảm dễ xảy ra trong 24 tuần đầu của điều trị hơn là sau đó.
Nhóm triệu chứng thường gặp nhất là nhức đầu, sốt lạnh, run, đau cơ/khớp và tình trạng khó chịu có khuynh hướng trở nên nặng nhất trong vòng 48 giời sau khi tiêm, nhất là khi tiêm lần đầu.
Giúp bệnh nhân xử lý các triệu chứng giống cúm:
Uống nhiều nước có thể giúp bệnh nhân giảm các triệu chứng giống cúm.
Cân nhắc acetaminophen/paracetamol hoặc ibuprofen để hạ nhiệt và giảm đau rõ nhất là điều chỉnh thời gian xuất hiện các triệu chứng này. Nhắc nhở bệnh nhân dùng quá liều các thuốc này vì chúng có thể làm tổn thương gan.
Khẳng định với bệnh nhân rằng độ nặng của các triệu chứng giống cúm thường gắn với mỗi lần tiêm.
2. NHỮNG THAY ĐỔI VỀ MÁU
Cần theo dõi công thức máu đầy đủ vì điều trị có thể làm giảm haemoglobin, bạch cầu đa nhân trung tính và tiểu cầu như được trình bày dưới đây.
Chú ý các dấu hiệu mệt mỏi hoặc khó thở.
- Điều trị ribavirin có thể gây thiếu máu huyết tán trong vài tuần đầu của điều trị. Nồng độ haemoglobin có thể giảm đi 2-3g/dL. Nếu giảm nhiều hơn số này (giảm còn ít hơn 10g/dL), có thể cần phải giảm liều ribavirin như đã được khuyến nghị trong tài liệu thông tin sản phẩm. Tuy nhiên, liều thấp hơn 600mg sẽ không có hiệu quả và cần chuyển sang đơn …liệu, tốt nhất bằng pegylated interferon. Đối với những người không có tiền sử bệnh tim khi mức heamoglobin nhỏ hơn 8,5g/dL cần phải ngừng ribavirin.
- Interferon làm giảm số lượng bạch cầu đa nhân trung tính trong vài tuần đầu của điều trị. Nếu giảm bạch cẩu đa nhân trung tính tiến triển, giảm liều interferon. Nếu số lượng bạch cầu đa nhân trung tính tăng lại, có thể khôi phục lại liều interferon đầy đủ.
- Interferon cũng làm giảm số lượng tiểu cầu trong vòng vài tuần đầu của điều trị. Nếu giảm tiểu cầu tiến triển, giảm liều interferon như đã được ghi rõ trong tài liệu thông tin sản phẩm. Nếu số lượng tiểu cầu tăng lại, có thể khôi phục lại liều interferon đầy đủ.
3. NHỮNG VẤN ĐỀ DỄ XÚC ĐỘNG LO ÂU, CHOÁNG VÁNG, TRẦM CẢM
Bệnh nhân bị viêm gan virus C mạn có thể có các triệu chứng hoảng hốt, lo lắng, thay đổi xúc cảm hoặc trầm cảm do tình trạng bệnh hoặc do điều trị. Trầm cảm dễ xảy ra trong 24 tuần đầu của điều trị hơn là sau đó.
Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013
Dứa dại chữa bệnh viêm gan
Dứa dại chữa bệnh viêm gan
Dứa dại tên khác là dứa gai, dứa gỗ… là một cây nhỏ, cao 1-2m. Thân có rễ phụ dài. Lá mọc tập trung ở ngọn, hình dải hẹp, cứng, mép và gân giữa có gai cứng. Cụm hoa gồm hoa đực và hoa cái. Quả to khi chín màu vàng. Nhiều bộ phận của cây dứa dại được sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian:Rễ: thu hái quanh năm. Loại rễ non chưa bám đất càng tốt, đào về rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Khi dùng lấy 8g rễ (nướng qua) phối hợp với vỏ cây đại (sao vàng), rễ si, rễ cau non, hương nhu, tía tô, hoắc hương đều 8g, hậu phác 12g tất cả thái nhỏ; sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần, chữa phù thũng.
Bệnh viện Ba Vì (Hà Tây cũ) đã chữa chứng tiểu rắt, tiểu ít, nước tiểu vàng đục, phù thận bằng bài thuốc kinh nghiệm sau: Rễ dứa dại 200g, râu ngô 150g, củ sả 50g, trấu gạo nếp (sao thơm) 50g, nõn tre 25g, cam thảo dây 25g. Tất cả nấu với 2 lít nước cho sôi kỹ trong 30 phút, đem lọc, thêm đường, uống trong ngày.
Người lớn mỗi lần 200 - 300ml; trẻ em 100 - 150ml. Ngày 2-3 lần. Một đợt điều trị 5 ngày. Nghỉ 3 ngày rồi tiếp tục đợt nữa cho khỏi hẳn.
![]() |
| Nhiều bộ phận của cây dứa dại được dùng làm thuốc. |
Nhiều bộ phận của cây dứa dại được dùng làm thuốc.
Đọt non:thu hái vào mùa xuân, dùng tươi hay sấy khô, được dùng trong những trường hợp sau:
Chữa sỏi thận: Đọt non dứa dại 20g, ngải cứu 20g, cỏ bợ 30g, đường phèn 10g, tất cả rửa sạch, thái nhỏ, giã nát, thêm nước rồi gạn uống.
Chữa tiểu rắt, tiểu buốt có máu: Đọt non dứa dại 20g, mầm rễ cỏ gừng 20g. Sắc uống trong ngày.
Chữa kinh phong ở trẻ em: Đọt non dứa dại 12g, lá chua me, lá xương sông, búp mít mật, cỏ nhọ nồi, mỗi thứ 8g, nhân hạt đào 5 cái. Tất cả giã nhỏ hòa với một chén nước đun sôi để nguội, gạn lấy nước trong, thêm ít đường, uống cách 2 giờ một lần. Cứ mỗi tuổi uống một thìa cà phê.
Có thể gia giảm như sau:
- Có đờm khò khè, thêm chua me và xương sông.
- Nóng sốt nhiều thêm dứa dại và búp mít.
- Co giật, thêm dâm hôi.
- Tiểu ít, táo bón thêm đào nhân.
- Trẻ em đang bị tiêu chảy không được dùng.
Dùng đắp ngoài: đọt non dứa dại, lá đinh hương (lượng bằng nhau), đắp chữa đinh râu rất tốt.
Quả: dùng tươi hoặc phơi khô.
Chữa bệnh xơ gan, cổ trướng: quả dứa dại 200g; thân cây ráy gai 200g, vỏ cây quao nước, vỏ cây vọng cách, lá trâm bầu, lá cối xay, rễ cỏ xước, mỗi vị 50g. Có thể thêm 50g cỏ hàn the hoặc 50g cỏ tranh. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước, còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày...
Để chữa viêm gan mãn tính, lấy quả dứa dại 100g, chó đẻ răng cưa 50g, sắc uống ngày một thang.
Theo tài liệu nước ngoài, hạt dứa dại 9 hạt, giã nhỏ nhồi vào 1 khúc ruột già lợn, ninh thật nhừ. Ăn cái, uống nước làm một lần trong ngày, chữa bệnh đái tháo đường.
DS. Đỗ Huy Bích
Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013
Bệnh viêm gan C nguy hiểm thế nào?
Bệnh viêm gan C nguy hiểm thế nào?
Bác Đỗ Văn Nam (sinh năm 1953, ở An dương, Hải phòng) phát hiện bị nhiễm virus viêm gan C năm 2007, khi bác cảm thấy trong người không khỏe, hay mệt mỏi, đau ở phía mạn sườn phải, da sạm đen, ăn không ngon miệng, thỉnh thoảng để ý thấy nước tiểu vàng…Đây là cú sốc về tinh thần đối với bác và gia đình vì tìm hiểu qua thông tin đại chúng, bác biết được bệnh viêm gan siêu vi C rất khó điều trị và khả năng lây nhiễm cao. 80% những người bị nhiễm Viêm gan c thì bệnh sẽ tiếp tục phát triển sang tình trạng mang viêm gan C mạn tính và ít nhất có 20% trong số này bệnh sẽ tiếp tục chuyển sang bệnh xơ gan, thậm chí là ung thư gan.
Từ đó hằng tháng bác đi tái khám và mua thuốc về uống. Bác cứ uống thuốc như vậy được 4 năm, cũng có lúc men gan hạ, nhưng rồi lại tăng trở lại, bác thấy trong người không khỏe, không hết bệnh, từ đó trở nên bi quan, chán nản.
ảnh chỉ mang tính chất minh họa
Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013
Dieu tri viem gan c miễn phí
Dieu tri viem gan c miễn phí cho 100 bệnh nhân nghèo
(Dân Việt) - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên
Giang, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Kiên Giang vừa tổ chức hội nghị tổng
kết điều trị miễn phí cho 100 bệnh nhân nghèo bị bệnh viêm gan virus C (VRC).
Hội nghị được tổ chức tại Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang với sự tham dự đông đảo các giáo sư, bác sĩ trong
tỉnh, các tỉnh bạn. Dự hội nghị còn có TS Đinh Quý Lan - Chủ tịch Hội Gan Mật
Việt Nam, Giáo sư Phạm Hoàng Phiệt - Phó Chủ tịch Hội Gan Mật Việt Nam.
Khám sàng lọc bệnh nhân viêm gan tại
Kiên Giang.
|
Các bác sỹ điều trị viêm gan c tại Kiên Giang
Bác sĩ Đỗ Thanh Bình (Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Kiên Giang) cho biết, thuoc tri viem gan c được sử dụng cho tất cả 100 bệnh nhân
nghèo là 2 loại thuốc Peginterferon alpha 2a (Pegnano) và Ribavirin (Baviria)
do Công ty TNHH Công nghệ sinh học dược Nanogen sản xuất. Hai loại thuốc này
đều có giá thấp hơn một nửa so với các thuốc nhập ngoại. Qua 2 năm điều trị,
97% bệnh nhân đạt kết quả khả quan, bệnh được đẩy lùi. Có một số rất ít bệnh
nhân có tác dụng không mong muốn như sốt nhẹ, mỏi mệt, kém ăn, đau mỏi chân
tay, trầm cảm, hạ bạch cầu tiểu cầu đều nhẹ, hầu hết không ảnh hưởng đến điều
trị.
Theo Bộ Y tế, tỉ lệ nhiễm trung
bình VRC ở nước ta là khoảng 2% dân số. Diễn biến của VRC rất chậm nhưng nếu
không điều trị kịp thời sẽ rất nguy hiểm. Một khi bệnh tiếp diễn, viêm nhiễm và
hoại tử tế bào gan âm thầm dần dần sẽ đưa đến xơ hóa. Xơ hóa trầm trọng sẽ dẫn
đến xơ gan. Bệnh lý này có thể gặp trong khoảng 20 - 47% bệnh nhân. Tình trạng
xơ gan nga quản, báng bụng, hôn mê, cuối cùng là tử vong. Tại Kiên Giang, số
bệnh nhân bị bệnh này khá lớn, trong đó nhiều bệnh nhân không được phát hiện
bệnh sớm, không có thuốc điều trị.
Tiến sĩ Đinh Quý Lan - Chủ tịch
Hội Gan Mật Việt Nam cho biết, người nhiễm phải VRC bị giảm chất lượng cuộc
sống, khả năng lao động kém và rất cần được chăm sóc về y tế. Chi phí chăm sóc
bệnh nhân viêm gan VRC mãn tính rất cao. Tổng chi phí hiện nay để điều trị một
trường hợp viêm gan VRC bằng Peginterferon và Ribavirin trong 48 tuần mất
khoảng 150 triệu đồng. Với nhiều bệnh nhân nghèo, đó là khoản tiền lớn. Nhiều
người không đủ tiền chữa bệnh phải chịu cảnh chết dần chết mòn. Bởi vậy, ông
hoan nghênh kết quả điều trị miễn phí cho 100 bệnh nhân nghèo: "Đây là kết
quả có ý nghĩa về nghiên cứu khoa học, thuốc chúng ta sản xuất trong nước có
hiệu quả tương đương với thuốc của các nước tiên tiến trên thế giới, giúp người
nghèo có thể tiếp cận thuốc để điều trị bệnh" - tiến sĩ Lan nói.
Ông Trần Lam - Chủ tịch Hội Bảo
trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Kiên Giang cho biết, để đẩy mạnh phong trào toàn dân
chung tay "đánh gục" virus viêm gan, Hội sẽ tiếp tục hỗ trợ điều trị
bệnh viêm gan virus cho các bệnh nhân nghèo trong thời gian tới.
Phạm Thanh
Xem thêm : Viem gan c man tinh, chua benh ve gan cap
Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013
CẬP NHẬT HƯỚNG DẪN DIEU TRI VIEM GAN C CỦA MỸ (AASLD)
CẬP NHẬT HƯỚNG DẪN DIEU TRI VIEM GAN C CỦA MỸ (AASLD)
Hiệp hội nghiên cứu bệnh gan của Mỹ (AASLD) đã cập nhật hướng dẫn cho việc dieu tri viem gan C (HCV) có kiểu gen(genotype) 1, cho thấy sự ra đời của các thuốc mới chống trực tiếp
siêu vi (DAAs= Direct-Acting Antiviral Agents).
Hướng dẫn mới nhất, được công bố trong ấn bản tạp chí Hepatology tháng mười năm 2011, cũng được chấp thuận bởi Hiệp hội các bệnh truyền nhiễm Mỹ (IDSA=Infectious DiseasesSociety of America), Hội tiêu hóa Mỹ (the American College of Gastroenterology), và Hội viêm gan siêu vi Mỹ (the National Viral Hepatitis Roundtable).
Việc phê chuẩn 2 chất ức chế protease Viêm gan c đầu tiên, boceprevir (Victrelis) và telaprevir(Incivek), mở ra một phác đồ mới dieu tri viem gan c. Những loại thuốc này và nhiều thuốc nữa đang được phát triển là những thuốc nhắm vào các đích đặc hiệu trên vòng đời của siêu vi C. Hiện nay các thuoc tri viem gan c này đang được sử dụng kết hợp với liệu pháp interferon (kích thích phản ứng của hệ miễn dịch chống lại HCV), nhưng những nghiên cứu để bỏ interferon, kết hợp tất cả các thuốc chống trực tiếp siêu vi (DAA) đang được tiến hành.
Hướng dẫn mới nhất, được công bố trong ấn bản tạp chí Hepatology tháng mười năm 2011, cũng được chấp thuận bởi Hiệp hội các bệnh truyền nhiễm Mỹ (IDSA=Infectious DiseasesSociety of America), Hội tiêu hóa Mỹ (the American College of Gastroenterology), và Hội viêm gan siêu vi Mỹ (the National Viral Hepatitis Roundtable).
Việc phê chuẩn 2 chất ức chế protease Viêm gan c đầu tiên, boceprevir (Victrelis) và telaprevir(Incivek), mở ra một phác đồ mới dieu tri viem gan c. Những loại thuốc này và nhiều thuốc nữa đang được phát triển là những thuốc nhắm vào các đích đặc hiệu trên vòng đời của siêu vi C. Hiện nay các thuoc tri viem gan c này đang được sử dụng kết hợp với liệu pháp interferon (kích thích phản ứng của hệ miễn dịch chống lại HCV), nhưng những nghiên cứu để bỏ interferon, kết hợp tất cả các thuốc chống trực tiếp siêu vi (DAA) đang được tiến hành.
Hướng dẫn điều trị viêm gan c của hiệp hội nghiên cứu bệnh gan của Mỹ
Hướng dẫn của Hiệp hội nghiên cứu bệnh
gan Mỹ (AASLD) bao gồm phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh viêm gan C mạn tính, sau này tập trung vào
HCV genotype 1, loại khá phổ biến
và khó
điều trị nhất. Họ cũng thảo luận về khả năng siêu
vi kháng với các thuốc chống trực tiếp siêu vi (DAAs), kiểm soát
các tác dụng phụ, và xem xét cho những nhóm
bệnh nhân đặc biệt.
Phác đồ điều trị chuẩn cho các bệnh nhân bị nhiễm siêu vi viem gan c man tinh là peginterferon alfa (Pegasys hoặc PegIntron) cộng với ribavirin 48 tuần cho kiểu gen(genotype)1, 4, 5, 6, hoặc 24 tuần cho kiểu gen(genotype) 2 và 3. Tỷ lệ đáp ứng siêu vi kéo dài(SVR) - được coi là chữa khỏi, trong khoảng 40% -50% cho kiểu gen 1 và khoảng 80% cho kiểu gen 2 và 3.
Đáp ứng siêu vi kéo dài làm giảm (và có thể đảo ngược một phần) tiến triển xơ gan và làm giảm nguy cơ xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan, ghép gan và tử vong có liên quan đến gan.
Các tác giả dựa vào 2 tiến bộ lớn đã làm thay đổi tối ưu cho việc điều trị kể từ khi phiên bản cuối cùng của hướng dẫn: đó là sự ra đời của các thuốc chống siêu vi trực tiếp(DAAs) và xác định các biến thể di truyền Interleukin 28B (IL28B) liên quan đến thải loại siêu vi và đáp ứng điều trị được cải thiện.
Mặc dù peginterferon và ribavirin vẫn là thành phần chính trong phác đồ của dieu tri viem gan c, sự xuất hiện của thuốc chống siêu vi trực tiếp(DAAs) đã dẫn đến một cải tiến đáng kể trong tỷ lệ đáp ứng siêu vi kéo dài (SVR) và có cơ hội giảm thời gian điều trị ở nhiều bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn tính với kiểu gen(genotype) 1.
Ngoài các chất ức chế men HCV protease như boceprevir và telaprevir, các loại thuốc chống siêu vi trực tiếp (DAAs) đang được nghiên cứu phát triển bao gồm các chất ức chế polymerase HCV và chất ức chế NS5A. Các thuốc chống siêu vi trực tiếp này(DAAs) cho thấy khả năng mạnh hơn và ít bị kháng thuốc khi các loại thuốc này được kết hợp.
Các loại thuoc tri viem gan c mới đòi hỏi phải sửa đổi hướng dẫn, đặc biệt là do tính chất ngày càng cá nhânhóa của việc điều trị viêm gan C, bao gồm sơ đồ hướng dẫn điều trị theo đáp ứng từng bướcphức tạp của boceprevir và telaprevir.
Boceprevir đã được phê chuẩn dựa trên dữ liệu quan trọng của nghiên cứu SPRINT-2 (ở những bệnh nhân trước đây không được điều trị) và RESPON-2 (ở những bệnh nhân không đáp ứngtrước đó). Telaprevir được phê chuẩn dựa trên các dữ liệu quan trọng đến từ nghiên cứuADVANCE (ở những bệnh nhân trước đây không được điều trị) và nghiên cứu RELIZE (ở những bệnh nhân không đáp ứng trước đó).
Tuy nhiên các tác giả của hướng dẫn này nhấn mạnh, thông tin về cách sử dụng các thuốc mới này vẫn còn ít, đặc biệt là sử dụng trong thực hành lâm sàng.
Phác đồ điều trị chuẩn cho các bệnh nhân bị nhiễm siêu vi viem gan c man tinh là peginterferon alfa (Pegasys hoặc PegIntron) cộng với ribavirin 48 tuần cho kiểu gen(genotype)1, 4, 5, 6, hoặc 24 tuần cho kiểu gen(genotype) 2 và 3. Tỷ lệ đáp ứng siêu vi kéo dài(SVR) - được coi là chữa khỏi, trong khoảng 40% -50% cho kiểu gen 1 và khoảng 80% cho kiểu gen 2 và 3.
Đáp ứng siêu vi kéo dài làm giảm (và có thể đảo ngược một phần) tiến triển xơ gan và làm giảm nguy cơ xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan, ghép gan và tử vong có liên quan đến gan.
Các tác giả dựa vào 2 tiến bộ lớn đã làm thay đổi tối ưu cho việc điều trị kể từ khi phiên bản cuối cùng của hướng dẫn: đó là sự ra đời của các thuốc chống siêu vi trực tiếp(DAAs) và xác định các biến thể di truyền Interleukin 28B (IL28B) liên quan đến thải loại siêu vi và đáp ứng điều trị được cải thiện.
Mặc dù peginterferon và ribavirin vẫn là thành phần chính trong phác đồ của dieu tri viem gan c, sự xuất hiện của thuốc chống siêu vi trực tiếp(DAAs) đã dẫn đến một cải tiến đáng kể trong tỷ lệ đáp ứng siêu vi kéo dài (SVR) và có cơ hội giảm thời gian điều trị ở nhiều bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn tính với kiểu gen(genotype) 1.
Ngoài các chất ức chế men HCV protease như boceprevir và telaprevir, các loại thuốc chống siêu vi trực tiếp (DAAs) đang được nghiên cứu phát triển bao gồm các chất ức chế polymerase HCV và chất ức chế NS5A. Các thuốc chống siêu vi trực tiếp này(DAAs) cho thấy khả năng mạnh hơn và ít bị kháng thuốc khi các loại thuốc này được kết hợp.
Các loại thuoc tri viem gan c mới đòi hỏi phải sửa đổi hướng dẫn, đặc biệt là do tính chất ngày càng cá nhânhóa của việc điều trị viêm gan C, bao gồm sơ đồ hướng dẫn điều trị theo đáp ứng từng bướcphức tạp của boceprevir và telaprevir.
Boceprevir đã được phê chuẩn dựa trên dữ liệu quan trọng của nghiên cứu SPRINT-2 (ở những bệnh nhân trước đây không được điều trị) và RESPON-2 (ở những bệnh nhân không đáp ứngtrước đó). Telaprevir được phê chuẩn dựa trên các dữ liệu quan trọng đến từ nghiên cứuADVANCE (ở những bệnh nhân trước đây không được điều trị) và nghiên cứu RELIZE (ở những bệnh nhân không đáp ứng trước đó).
Tuy nhiên các tác giả của hướng dẫn này nhấn mạnh, thông tin về cách sử dụng các thuốc mới này vẫn còn ít, đặc biệt là sử dụng trong thực hành lâm sàng.
Nguồn : Internet
Xem thêm : Viem gan C men gan cao|dieu tri viem gan C|thuoc tri viem gan C |viêm gan c mãn tính|chua benh ve gan cap|chữa bệnh viêm gan b|triệu chứng viêm gan b|điều trị viêm gan c|chữa viêm gan b|virus viêm gan b|viêm gan b mãn tính|dieu tri benh viem gan b|viêm gan a|bệnh viêm gan b|viem gan c|viêm gan c|viêm gan siêu vi b|bệnh viêm gan c|thuoc dieu tri viem gan b|bệnh viêm gan siêu vi b|bệnh xơ gan|viêm gan b
Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013
Dieu tri viem gan C như thế nào?
Dieu tri viem gan C
Bệnh viêm gan C là một bệnh nguy hiểm do tỉ lệ chuyển sang viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan rất cao. Tỉ lệ bệnh nhân chuyển sang viêm gan mạn từ 40-70% và từ viêm gan mạn chuyển sang xơ gan từ 10-25%.
Dieu tri viem gan c chủ yếu là:
![]() |
| Vệ sinh hằng ngày |
- Theo dõi các biến chứng xơ gan, ung thư gan bằng cách khám định kỳ mỗi tháng, các bác sĩ sẽ cho làm các xét nghiệm như siêu âm, thử máu…để theo dõi diễn tiến bệnh.
- Hiện nay người ta đã dieu tri viem gan c bằng interferon alpha (biệt dượcPegintron) chích kết hợp với uống Ribavirin, tuy nhiên cách điều trị này rất tốn kém.
Thông thường người ta chích dưới da interferon alpha 1 lần/tuần và uống Ribavirin 2 lần/ngày, điều trị từ 24- 48 tuần. Sau điều trị 12 tuần, thử lại máu xem có đáp ứng với điều trị không, nếu số lượng virus nhỏ hơn 10 lần so với trước lúc điều trị thì điều trị tiếp, còn không đáp ứng thì dùng phương pháp khác. Sau 24 tuần điều trị thử lại máu, nếu HCVRNA ( - ) thì điều trị tiếp cho đủ 12 tháng. Tỉ lệ đáp ứng của phương pháp điều trị này khoảng từ 54 – 63%.
Giá tiền 1 liều Interferon khoảng trên 1 triệu đồng.
Về dieu tri viem gan c bằng thuoc đông y, hiện nay Xí nghiệp dược phẩm Trung ương 25 có sản xuất thuốc Hepaphyl được sản xuất từ cây diệp hạ châu đắng (dân gian gọi là cây chó đẻ răng cưa) uống cũng cho kết quả khá tốt mà lại rẻ.
Nguồn : Internet
Xem thêm : Viem gan c man tinh, thuoc tri viem gan c, chua benh ve gan cap, cach chua benh nong gan
Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013
Bảo hiểm y tế “phớt lờ” thuốc dieu tri viem gan C?
Bảo hiểm y tế “phớt lờ” thuốc điều trị viêm gan c?
PN - Theo thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/7/2011 của Bộ Y tế, Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) sẽ thanh toán đối với một số thuốc với chỉ định điều trị cụ thể như sau: Interferon và Peginterferon dieu tri viem gan c theo đúng phác đồ. Hiệu lực thi hành của thông tư này bắt đầu từ ngày 25/8/2011. Tuy nhiên, gần một năm qua, bệnh nhân (BN) điều trị viêm gan siêu vi C vẫn chưa được hưởng chế độ này.
Điều trị bệnh nhân viêm gan C ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới - Ảnh: P.Huy
Mừng hụt
Khoa Nhiễm A, Bệnh viện (BV) Bệnh Nhiệt đới TP.HCM hiện có nhiều BN viêm gan C đang điều trị. Trung bình mỗi tháng, phòng khám nơi này tiếp nhận 5.000 lượt BN đến khám các bệnh lý về gan, trong đó 40% là viêm gan siêu vi C. Thế nhưng, số BN đủ khả năng đieu tri viem gan c đặc hiệu theo phác đồ chuẩn chỉ khoảng 5%. Những BN còn lại được điều trị bảo tồn, nghĩa là sử dụng các thuốc bảo vệ gan, chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi để “dưỡng bệnh”, nhằm làm chậm quá trình viêm gan tiến triển thành xơ gan hoặc ung thư gan.
BS CKII Lý Văn Chương - Trưởng khoa Nhiễm A cho biết: “Số lượng BN viêm gan C ở Việt Nam khá lớn. Riêng BV Bệnh Nhiệt đới TP.HCM, mỗi ngày có khoảng 200 ca mắc viêm gan C đến khám. BN viêm gan C đã rất vui mừng khi biết được BHYT sẽ hỗ trợ chi trả một số thuốc điều trị đặc hiệu, nhưng sau khi đợi chờ mỏi mòn vẫn không được BHYT thanh toán. Bảo hiểm có lẽ không kham nổi vì chi phí thuốc điều trị quá cao, trong khi hiệu quả điều trị khá khiêm tốn”.
Theo BS Võ Minh Quang - Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp (BV Bệnh Nhiệt đới TP.HCM), khi dùng Interferon và Peginterferon có ba điều cần lưu ý: rất đắt tiền (từ 1,8 triệu đến gần bốn triệu đồng/ống/tuần), nhiều tác dụng phụ (rụng tóc, nhức đầu…) và hiệu quả không đạt 100%. Ngoài thuốc điều trị đặc hiệu, hàng tháng BN còn phải làm các xét nghiệm định lượng kiểm tra (khoảng một triệu đồng/xét nghiệm), xét nghiệm theo dõi, các loại thuốc tạo máu - tạo bạch cầu (trên một triệu đồng)… Một phác đồ điều trị viêm gan chuẩn kéo dài một năm, với chí phí ước tính ít nhất 100 triệu đồng.
Thanh toán BHYT cho bệnh nhân: bao giờ?
Việc điều trị viêm gan C quá tốn kém, đặc biệt đối với những BN nghèo. Trước sự mong chờ của BN về chế độ BHYT thì mới đây, BHXH TP.HCM có công văn số 2096/BHXH-NVGD1, tiếp tục khẳng định: BHYT tạm ngưng thanh toán hai loại thuốc nói trên trong khi chờ BHXH Việt Nam hướng dẫn thống nhất về quy trình quản lý người bệnh để đảm bảo điều trị.
Phó Giám đốc BHXH TP.HCM Lưu Thị Thanh Huyền giải thích: “Sau khi Bộ Y tế đưa hai loại thuốc Interferon và Peginterferon vào danh mục tân dược được BHYT thanh toán cho BN viêm gan C, chúng tôi bắt đầu tiếp cận với các phác đồ điều trị do các BV xây dựng. Theo đó, thời gian sử dụng thuốc để đạt hiệu quả khá dài, 48 - 72 tuần; chi phí khá cao; đồng thời thuốc có nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng (đau đầu, khó chịu, chán ăn, rụng tóc…). Do đó, khi BHYT thanh toán cho BN, phải xét hai vấn đề: BN tuân thủ điều trị như thế nào? Và BN có đủ điều kiện để đóng phần chi phí đồng chi trả của mình hay không. Bởi vì chỉ tính riêng chi phí điều trị đặc hiệu hai loại thuốc trên đã khoảng 200 - 300 triệu đồng/đợt điều trị. 20% đồng chi trả cũng không phải là ít, chưa tính đến các khoản chi phí khác như xét nghiệm theo dõi, các thuốc hỗ trợ nâng thể trạng, bảo vệ gan trong suốt quá trình sử dụng thuốc điều trị đặc hiệu. Nếu BN không đủ điều kiện, toàn bộ đợt điều trị trước đó hoàn toàn không có giá trị”.
Mặt khác, phác đồ điều trị viêm gan C hiện do BV Bệnh Nhiệt đới xây dựng cho toàn bộ BV trên địa bàn thành phố. Vì vậy, BHXH Việt Nam đang phối hợp với Bộ Y tế thống nhất một phác đồ chung hướng dẫn cho cả nước. Đó là căn cứ để các cơ sở điều trị tuân thủ nhằm tiết kiệm chi phí, tránh hiện tượng BN không điều trị đúng phác đồ ngay từ đầu dẫn đến kháng thuốc. Bên cạnh đó, BN phải cam kết tuân thủ điều trị (ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng) và sẽ có những chế tài nếu BN bỏ trị. Tuy nhiên, khi nào bắt đầu thanh toán cho BN điều trị viêm gan C có BHYT vẫn chưa có thông tin cụ thể.
Theo một BS chuyên khoa nhiễm, khi đã đưa thuoc tri viem gan c Interferon và Peginterferon vào danh mục, chắc chắn BHXH phải có sự cân nhắc, tính toán từ trước. Tuy nhiên, dù với lý do nào (thuốc chưa đạt hiệu quả như mong muốn, thuốc quá mắc tiền, BN chỉ mua bảo hiểm với mục đích chữa bệnh), một năm qua, BHYT chưa thanh toán thuốc điều trị viêm gan C là đã làm sai quy định.
Nguồn : Internet
Viem gan C men gan cao|dieu tri viem gan C|thuoc tri viem gan C |viêm gan c mãn tính|chua benh ve gan cap|chữa bệnh viêm gan b|triệu chứng viêm gan b|điều trị viêm gan c|chữa viêm gan b|virus viêm gan b|viêm gan b mãn tính|dieu tri benh viem gan b|viêm gan a|bệnh viêm gan b|viem gan c|viêm gan c|viêm gan siêu vi b|bệnh viêm gan c|thuoc dieu tri viem gan b|bệnh viêm gan siêu vi b|bệnh xơ gan|viêm gan b
Xem thêm : viem gan c men cao, viem gan c man tinh, thuoc tri viem gan c, cach chua benh nong gan
Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013
Viêm gan c lên điều trị sớm
Khi phát hiện viêm gan c lên dieu tri viem gan c sớm nhất
Con tôi xét nghiệm ở Pasteur phát hiện bệnh viêm gan C. Xin hỏi có cần uống thuốc gì không? Ăn uống thế nào? Bệnh có khỏi không ?
Con tôi xét nghiệm ở Pasteur phát hiện bệnh viêm gan C và tiếp tục xét nghiệm định lượng HCV-RNA kết quả ghi "dưới ngưỡng phát hiện (ngưỡng phát hiện 500 cps/ml)"
Kết quả sinh hóa
SGOT( AST) 27.0 ( 9- 35 ) U/L;
SGPT (ALT ) 39.3 (7-40) U/L;
GGT 58.6 (8-37 ) U/L
BS hẹn 6 tháng tái xét nghiệm. Xin hỏi trong thời gian này có cần uống thuốc gì không? Ăn uống thế nào? Có khi nào bệnh sẽ khỏi không?
(Suong Phan)
Bác sĩ tư vẫn cách điều trị viêm gan c họp lý
Theo bạn cho biết, con bạn được làm xét nghiệm và phát hiện bệnh viêm gan C. Như vậy, con bạn có lẽ đã được làm xét nghiệm định tính anti-HCV và/hoặc định tính HCV RNA, và kết quả của các xét nghiệm cho dương tính. Anti-HCV là chất chống lại virus viêm gan C (HCV) được tạo ra khi virus này xâm nhập vào cơ thể. Đây là xét nghiệm ban đầu và kinh điển để tầm soát và chẩn đoán nhiễm virus viêm gan C. Tuy nhiên, xét nghiệm này không giúp phân biệt được tình trạng nhiễm virus cấp tính, mạn tính hay trước đó nhiễm mà nay đã không còn nhiễm nữa.
Virus viêm gan C là loại virus chứa RNA trong nhân (khác với virus gây viêm gan B có DNA là chất liệu di truyền), cho nên người ta áp dụng cách định tính và định lượng RNA của virus để xác định tình trạng và mức độ nhiễm virus trong cơ thể. Xét nghiệm định tính HCV RNA thì nhạy hơn xét nghiệm định lượng vì nó có thể phát hiện sự có mặt của virus ở mức thấp hơn ngưỡng phát hiện của xét nghiệm định lượng, nhưng nó chỉ cho biết sự có mặt hay không có mặt của virus trong mẫu máu xét nghiệm chứ không cho biết được cụ thể số lượng nhiều hay ít.
Định lượng RNA virus giúp đánh giá hiệu quả của quá trình điều trị - số lượng RNA virus sẽ giảm nếu điều trị có kết quả tốt. Nếu trước đó con bạn có làm HCV RNA định tính và kết quả dương tính thì tình trạng nhiễm virus viêm gan C của con bạn là đang ở giai đoạn hoạt động với sự xuất hiện virus trong máu. Còn nếu con bạn có kết quả anti-HCV dương tính nhưng định tính HCV RNA âm tính thì con bạn đã nhiễm virus viêm gan C một thời gian trước và hiện tại đã "sạch" virus.
Về kết quả men gan, các men AST và ALT của con bạn trong giới hạn bình thường, còn GGT chỉ tăng chút ít, nên có lẽ các tế bào gan không bị hiện tượng viêm phá hủy. Tuy nhiên, kết quả men gan có thể bình thường trong viêm gan C mạn dù bệnh đang diễn tiến, do đó cần kiểm tra men gan nhiều lần ở các thời điểm khác nhau.
Nhiễm virus viêm gan C có thể ở dạng cấp tính hoặc mạn tính. Ở trường hợp cấp tính, người bệnh có các biểu hiện chung của các viêm gan do virus như chán ăn, khó chịu ở bụng, buồn ói, ói, có vàng da hoặc tăng men gan. Còn đa số trường hợp viêm gan C mạn tính lại không biểu hiện triệu chứng gì, nhưng lại có thể diễn tiến nặng đến xơ gan và ung thư gan.
Khi nhiễm siêu vi viêm gan C, 85% trường hợp sẽ không loại trừ virus ra khỏi cơ thể được và trở thành nhiễm virus mạn tính, còn 15% có khả năng lành bệnh. Với các mô tả của bạn, tôi cũng chưa đánh giá chắc chắn được tình trạng nhiễm siêu vi viêm gan C của con bạn là cấp tính hay đã mạn tính. Con bạn cần tiếp tục theo dõi các xét nghiệm về viêm gan siêu vi C và men gan, chức năng gan.
Kết quả định lượng HCV RNA của con bạn dưới ngưỡng phát hiện nên việc dùng thuốc đặc trị được xét đến khi có các kết quả rõ ràng hơn về tình trạng nhiễm virus viêm gan C. Trước khi điều trị con bạn cũng cần xác định kiểu gen của virus gây bệnh để quyết định thời gian điều trị. Việc điều trị viêm gan C cũng nên được theo dõi tại cơ sở y tế chuyên khoa.
Khi gan đã bị nhiễm virus viem gan C, con bạn nên cẩn thận khi dùng thuốc điều trị các bệnh khác nhau và chú ý đến tác dụng trên gan của các thuốc này; cần báo cho bác sĩ điều trị biết. Bên cạnh đó, cần chú ý để tránh trở thành nguồn lây cho cộng đồng và gia đình như tránh cho máu, không dùng chung đồ cá nhân như bàn chải răng, dao cạo râu, cần băng các vết thương chảy máu...
Có một điều mà bạn đừng quá lo sợ là: trẻ nhỏ nhiễm siêu vi tế bào gan có khả năng sinh sản và phát triển, sức đề kháng của trẻ tốt là hai yếu tố làm siêu vi gan ít bùng phát thành đợt cấp. Bạn nên cho cháu ăn, ngủ đầy đủ và đừng để cháu cho là tình trạng sức khỏe của cháu không tốt. Yếu tố tâm lý rất quan trọng, bạn cứ bình thường để cháu yên tâm học tập.
BS LÊ THÚY TƯƠI
(Theo Tuoitre.com.vn)
Xem thêm : Viêm gan C men cao|dieu tri viem gan C|thuoc tri viem gan C |viêm gan c mãn tính|chữa bệnh viêm gan b|triệu chứng viêm gan b|điều trị viêm gan c|chữa viêm gan b|virus viêm gan b|viêm gan b mãn tính|dieu tri benh viem gan b|viêm gan a|bệnh viêm gan b|viem gan c|viêm gan c|viêm gan siêu vi b|bệnh viêm gan c|thuoc dieu tri viem gan b|bệnh viêm gan siêu vi b|bệnh xơ gan|viêm gan b
Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013
Những Triệu Chứng của Viêm Gan C
Những Triệu Chứng của Viêm Gan C Chuyển Mãn Tính
Nhiều người không có hoặc có một ít triệu chứng trong giai đoạn nhiễm HCV cấp tính. Phần lớn các người mang bệnh HCV kinh niên cũng không có triệu chứng nào và vẫn sống gần như bình thường. Tuy nhiên, những người khác có triệu chứng giống như bị cảm cúm nhẹ như buồn nôn, mệt mỏi, sốt, nhức đầu, ăn không ngon, đau vùng bụng, và nhức bắp thịt hay ở khớp. Một số người lại có những triệu chứng như bị cảm cúm nặng, cũng như vàng da và mắt bị đục, nước tiểu đậm. Sau một thời gian (thường là nhiều năm hoặc vài chục năm), người có bệnh HCV kinh niên có thể có những triệu chứng liên quan đến hư gan. Viêm Gan C kinh niên có thể liên quan đến nhiều triệu chứng khác.
![]() |
| Khám khi có triệu chứng viêm gan c |
Các Triệu Chứng của Người bị Viêm Gan C (viem gan c cap tinh)
| Viêm gan C cấp tính | ||
| Ðau ốm như bị cúm | Sình bụng | Buồn nôn |
| Mệt mỏi (nhẹ đến nặng) | Đau vùng bụng | Nôn mửa |
| Ăn không ngon (biếng ăn) | Sốt | Đổ mồ hôi vào đêm |
| Tiêu chảy | Vàng da | Khó tiêu |
| Nhức bắp thịt, khớp | Nhức đầu | |
| Viêm gan C kinh niên | ||
| Mệt mỏi (nhẹ đến nặng) | "Brain fog" (Rối trí) | Tâm thần bất thường |
| Ăn không ngon (biếng ăn) | Buồn nôn | Khó tiêu |
| Nhức bắp thịt, khớp | Đau vùng bụng | Sốt |
| Nhức đầu | Trầm cảm | |
| Giai đoạn cuối của viêm gan C với tình trạng xơ gan | ||
| Mệt mỏi (nhẹ đến nặng) | Sốt | Buồn nôn |
| Ăn không ngon (biếng ăn) | Nôn mửa | Tiểu nhiều |
| Vàng da | Khó tiêu | Nhức đầu |
| Nhức bắp thịt, khớp | Đau vùng bụng | Sình bụng |
| Trầm cảm | Tâm thần bất thường | Nhận thức chậm chạp |
| Không tập trung | Rối loạn tinh thần | Chóng mặt |
| Thị giác kém | Tụ nước (phù) | |
Những Triệu Chứng Liên Quan Ðến viem gan c man tinh
Có một số triệu chứng được cho là liên quan đến HCV. Một trong số triệu chứng đó là triệu chứng autoimmune, khi chính hệ thống miễn nhiễm tấn công vào các nhóm mô thịt của cơ thể. Các triệu chứng đôi khi thấy được ở các người có HCV kinh niên là hội chứng Sjogren (có đặc điểm là khô mắt và miệng), triệu chứng viêm thận (glomerulonephritis), bị các chứng bệnh tim và máu như tắc nghẽn mạch máu (thrombosis), và các triệu chứng da như lichen planus (có đặc điểm là da bị loang trắng và sưng), và porphyria cutanea tarda (da nổi ban do nắng). Những triệu chứng khác là một số loại viêm khớp (arthritis), nhức khớp (arthralgia), bệnh về tuyến giáp trạng (thyroid), viêm mạch máu (vasculitis), và triệu chứng chất đạm của máu tích tụ trong thận, da, và giây thần kinh (cryoglobulinemia). Những triệu chứng nghiêm trọng đều thuộc về giai đoạn cuối của bệnh viêm gan c đã chuyển sang mãn tính, khi gan bị hư hại và các chức năng của gan bị rối loạn. Có nhiều người mang bệnh HCV mà không bao giờ có các triệu chứng này. Hãy tham khảo với bác sĩ nếu bạn có bất cứ triệu chứng bất thường nào.
Nguồn : Internet
Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013
Nguyên nhân dẫn đến men gan tăng cao
Nguyên nhân dẫn đến men gan tăng cao
Men gan tăng cao có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra nhưng trong đó viêm gan là nguyên nhân chính. Nồng độ của men gan tăng thường tỷ lệ thuận với mức độ viêm nhiễm của gan. Dưới đây là một số nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng men gan tăng cao.
Men gan tăng cao do một số bệnh về gan như viêm gan c men cao
Viêm gan siêu vi cấp: Nồng độ AST, ALT tăng rất cao thường thấy trong những bệnh gây hoại tử gan lan tỏa như viêm gan siêu vi cấp, quá liều acetaminophen, ngưng tuần hoàn kéo dài…
Suy gan hay sốc gan : Men gan tăng lên đến 3.000 U/L trong viêm gan virus cấp hoặc viêm gan do thuốc. Khi bị suy gan cấp hay sốc gan men gan có thể tăng đến 5.000 U/L.
Gan nhiễm mỡ: Tăng men gan từ nhẹ đến trung bình thường gặp trong gan nhiễm mỡ do rượu, đái tháo đường, béo phì; viêm gan siêu vi mạn hoạt động, viêm gan tự miễn, ứ sắt, bệnh lý tự miễn ở ruột non.
Vàng da, tắc mật: Trong vàng da tắc mật, men gan thường dưới 500 U/L.
Viêm gan do rượu: Ở bệnh nhân viêm gan do rượu AST thường tăng 2 – 10 lần, ALT chỉ ở mức bình thường, tăng nhẹ, thấp có thể do ở người nghiện rượu thiếu pyrydoxal 5-phosphate là yếu tố cần cho sự tổng hợp ALT.
Ở bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ALT thường cao hơn AST.
Nguyên nhân ít gặp: hemachromatosis (quá tải sắt), bệnh Wilson, thiếu alpha-1-antitrypsin, Celiac sprue, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng, viêm gan tự miễn…
Hemachromatosis là một bệnh di truyền rối loạn hấp thu sắt, tích tụ sắt trong gan dẫn đến bệnh xơ gan.
- Wilson là một rối loạn di truyền với sự tích tụ quá mức của đồng trong các mô thường là gan và não dẫn đến viêm gan mạn, xơ gan, rối loạn tâm thần, động kinh.
- Alpha-1-antitrypsin là một rối loạn di truyền, trong đó thiếu alpha-1-antitrypsin dẫn đến khí phế thủng, viêm gan.
- Viêm gan tự miễn là tổn thương gan do rối loạn miễn dịch tạo ra kháng thể gây tổn thương gan.
- Celiac sprue là một bệnh của ruột non, do dị ứng với gluten biểu hiện đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy, suy dinh dưỡng, bất thường ALT và AST.
Nguồn : Internet
Xem thêm : Viem gan C men gan cao|dieu tri viem gan C|thuoc tri viem gan C |viêm gan c mãn tính|chua benh ve gan cap|chữa bệnh viêm gan b|triệu chứng viêm gan b|điều trị viêm gan c|chữa viêm gan b|virus viêm gan b|viêm gan b mãn tính|dieu tri benh viem gan b|viêm gan a|bệnh viêm gan b|viem gan c|viêm gan c|viêm gan siêu vi b|bệnh viêm gan c|thuoc dieu tri viem gan b|bệnh viêm gan siêu vi b|bệnh xơ gan|viêm gan b
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

.jpg)

.jpg)

.jpg)
.jpg)